Bói Dịch hay Gieo Quẻ Dịch Số là một trong những phương pháp dùng để tiên đoán những chuyện có thể xẩy ra trong tương lai mà hoàn toàn không cần biết ngày giờ sinh.

Cách thức gieo quẻ rất đơn giản, dùng Ngày Giờ Tháng Năm lúc muốn hỏi, hoặc dùng 3 đồng tiền cổ hoặc 3 đồng tiền nào dễ phân biệt Âm Dương để gieo quẻ lục hào.

Cách gieo lục hào: Úp 3 đồng tiền vào lòng bàn tay trong vòng vài phút và suy nghĩ tới việc mình muốn hỏi. Thường đồng xu có hai mặt, quí vị hãy tự gán âm dương để biết mặt nào là âm và mặt nào là dương. Mỗi lần gieo quẻ chỉ hỏi 1 việc mà thôi. Sau đó tung tiền xuống mặt đất hay trên mặt bàn. Nếu 2 hào âm 1 hào dương thì gọi là hào âm __ __, nếu 2 hào dương 1 hào âm thì gọi là hào dương ____, nếu 3 hào âm thì gọi là hào âm động ____x, còn nếu 3 hào dương thì gọi là hào dương động ____o.

Tung tiền 6 lần và ghi rõ thứ tự mồi lần tung tiền xuống form. Ghi từ dưới lên trên. Gieo lần thứ nhất thì ghi dưới chót chỗ Hào 1. Gieo lần thứ nhì thì ghi ở Hào 2 và tiếp tục như thế cho đến Hào 6 là lần gieo tiền cuối cùng.

Qúy vị nhập năm tháng ngày giờ của sự việc muốn chiêm
Ngày Toán
Giờ Toán
Chiêm theo
Quý vị hãy nhập 6 hào âm đương, hoặc để hệ thống tự gieo
Hào 6
Hào 5
Hào 4
Hào 3
Hào 2
Hào 1
Ngày Toán
Giờ Toán
Bói Dịch
Năm Tân Sửu, tháng Đinh Dậu, ngày Mậu Dần, giờ Quý Hợi (22:59/21/08/2021)
Bổn Quẻ
Sơn Hỏa Bí (Cấn - Thổ)
Biến Quẻ
Thuần Cấn (Cấn - Thổ)
Quan Quỷ
Dần
Quan Quỷ
Dần
Thế Chu Tước
Thê Tài
Thê Tài
Thanh Long
Huynh Đệ
Tuất
Ứng
Huynh Đệ
Tuất
Huyền Vũ
Thê Tài
Hợi
Tử Tôn
Thân
Ứng Bạch Hổ
Huynh Đệ
Sửu
Phụ Mẫu
Ngọ
Phi Xà
Quan Quỷ
Mão
Thế
Huynh Đệ
Thìn
Câu Trần
Phiên bản gieo quẻ Dịch số này phát triển bởi XemTuong.net

Hình lá số

Bổn quẻ bình giải
Bổn Quẻ biểu thị cho công việc ở giai đoạn đầu.
Quẻ Bí chỉ thời vận xấu, bề ngoài tưởng mọi sự dễ dàng nhưng thực chất khó khăn, suy thoái. Công danh sự nghiệp lúc đầu có vẻ thuận lợi nhưng càng về sau càng sa sút, thậm chí hữu danh vô thực. Thời vận của những người có bề ngoài hào nhoáng nhưng bên trong trống rỗng. Tài vận kém, kinh doanh không có thực chất. Kiện tụng dễ thất bại. Thi cử chỉ đạt bình thường. Tình yêu hào nhoáng nhưng khó thành. Gia đình bằng mặt, không bằng lòng. Người có quẻ này sinh tháng 11 là đắc cách, sẽ gặp nhiều cơ hội lập công danh.

Biến quẻ bình giải
Biến Quẻ biểu thị công việc ở giai đoạn cuối.
Quẻ Cấn chỉ thời vận khó khăn, ngừng trệ, nhiều khó khăn, không lợi cho việc triển khai công việc, nên giữ như cũ thì hơn. Sự nghiệp khó thành, không thể toại nguyện. Tài vận không có, kinh doanh phải dừng lại, giữ được cơ nghiệp là may. Cơ hội kiếm tiền khó, không tìm được bạn kinh doanh hợp tác, mất của khó tìm. Xuất hành bất lợi, nhiều gian nguy nên dừng lại. Kiện tụng tốn kém phiền hà. Thi cử khó đạt. Tình yêu nhiều trở ngại, không ai giúp đỡ, không hợp tính tình. Hôn nhân khó thành, không có duyên phận. Người gặp quẻ này, sinh vào tháng tư là gặp cách công danh phú quý.

Bổn Quẻ là SƠN HỎA BÍ (quẻ số 22)
A - Giải Thích Cổ Điển

1) Toàn quẻ :

- Vật không thể lộn xộn mà hợp được, tất phải có văn sức. Nên tiếp quẻ Phệ Hạp là quẻ Bí (trật tự uy nghi).

- Tượng hình bằng trên Cấn dưới Ly. Quẻ Cấn là quẻ Khôn lấy một hào dương cho lên trên, là lấy cương làm văn cho nhu vậy. Quẻ Ly là quẻ Càn lấy một hào âm cho vào giữa, là lấy nhu làm văn cho cương vậy. Thánh nhân xem tượng ấy, dùng văn sức (lễ, nhạc) để giáo hóa dân chúng. Nhưng lửa ở dưới núi tuy có sáng, nhưng không sáng được xa, lấy văn sức chỉ được những chính tích nhỏ mà thôi.

2) Từng hào :

Sơ Cửu : quân tử ở vị thấp, chỉ nên tu sức phẩm hạnh của mình, không cần khoa trương để được đời biết đến. (Ví dụ Hứa Do, Sào Phủ).

Lục Nhị : đắc chính đắc trung, có bản chất tốt, nếu thêm văn sức vào thì càng tốt thêm. (Ví dụ nước Pháp dưới thời Louis XIV nhân tài rất nhiều, văn thần võ tướng đều xuất chúng, nhưng được coi là kiểu mẫu cho cả Âu châu chính nhờ công của các văn sĩ, nghệ sĩ).

Cửu Tam : dương cương đắc chính, đủ sức bí được nhị âm (Nhị, Tứ), nghĩa là biến một xã hội thô bạo thành một xã hội văn minh. Nhưng e rằng quá mê say văn sức, nên thánh nhân răn: phải giữ trinh chính mới được cát. (Ví dụ Đường Minh Hoàng cũng là một bậc anh hùng, dẹp xong loạn Vi hậu, bèn say mê tửu sắc, thi văn nên mới sinh ra loạn An Lộc Sơn. Hoặc như bà Récamier mở khách thính, cải thiện được cử chỉ và ngôn ngữ thô lỗ của người đồng thời, nhưng hơi đi quá trớn, khiến thành kiểu cách, bị Molière châm biếm trong vở kịch Les Précieuses Ridicules).

Lục Tứ : âm nhu đắc chính, ứng với Sơ Cửu, muốn kết với Sơ dũng mãnh để dùng cả văn minh và vũ lực. Nhưng bị Cửu Tam gián cách, nên tình thế phải nghi. Nhưng Tam không dám làm ẩu đâu, kết quả Tứ không có điều gì oán hận. (Ví dụ Lưu Biểu nhu nhược, nghe tin Lưu Bị anh hùng bị khốn, muốn đón về Kinh Châu. Bị bọn Sái Mạo ngăn cản, nhưng được Tôn Càn giảng giải, nên vẫn mời được Lưu Bị đến giúp sức).

Lục Ngũ : ở thời bí mà có hơi keo sẻn, bị thường tục chê cười. Nhưng mặc đời xa hoa chê cười, mình cứ kiệm phác, chỉ tu sức tài đức, nên vẫn được tốt lành. (Ví dụ Án Anh dưới thời Tề Tuyên vương xa hoa, làm đến tể tướng mà vẫn mặc áo cừu cũ, cưỡi xe ngựa gầy).

Thượng Cửu : thời Bí đã cùng cực rồi, sắp quay về bản chất nguyên tố. Người quân tử hiểu vậy, bí bằng tự nhiên, ý chí của mình rất tự đắc vậy. (Ví dụ Đào Tiềm xa lánh phồn hoa, lui về làm ruộng).

B - Nhận Xét Bổ Túc.

1) Ý nghĩa quẻ Bí :

- Hình tượng quẻ này hơi giống quẻ Phệ Hạp, cũng có hai hào dương ở Sơ và Thượng, và một hào dương ở giữa 3 hào âm. Nhưng khác ở chỗ ở Phệ Hạp thì hạ quái là dương và thượng quái là âm, còn ở Bí thì ngược lại. Thế nghĩa là ở thời Phệ Hạp đức tính chấn động, trừ gian, cần thiết hơn lối sống văn minh, cần phải dụng hình để đập tan các trở ngại. Trái lại, ở thời Bí thì khuynh hướng hưởng thụ một cuộc sống văn minh lấn áp khuynh hướng bảo thủ, khắc khổ.

2) Bài học :

Tức là lấy lễ nghi, hào nhoáng bề ngoài để tô điểm cho xã hội, phong tục. Văn sức tự nó là tốt, một người con gái khéo trang điểm tất nhiên hấp dẫn hơn là cứ để mộc mạc, một bài thơ có nhiều ý kiến hay mà lại dùng lời đẹp vần êm thì càng dễ cảm hoá người đọc.

Nhưng nên nhớ rằng văn sức chỉ là cái phụ, cái chính vẫn là thực chất. Thế cho nên thánh nhân răn: Thà giữ mộc mạc như Sơ Cửu, Lục Ngũ, còn hơn là quá say mê văn sức như Cửu Tam. Sparte thô bạo thắng được Athènes văn minh, rợ Liêu, Kim, Mông Cổ thắng được nhà Tống có văn hoá rực rỡ, chính là tấm gương tầy liếp không bao giờ nên quên.

Đó là bài học quẻ Bí: khi làm bất cứ việc gì, nên lấy bồi bổ thực chất làm trọng, còn văn sức bề ngoài chỉ là phụ. Ví dụ:

- làm thơ, diễn thuyết cần ý hay hơn văn đẹp

- lực lượng quốc phòng căn cứ vào binh tinh nhuệ, khí giới tối tân, hơn là vào số đông binh tạp nhạp, binh phục đẹp mà khí giới lạc hậu

- quảng cáo rùm beng mà hàng xấu, giá đắt, chỉ có thể đánh lừa khách hàng một lần thôi.


Bảng Bát Quái Vạn Vật
Quẻ SƠN HỎA BÍ có Thượng quái là Cấn và Hạ quái là Ly. Bản bát quái vạn vật sẽ liệt kê những thứ liên quan trong quẻ này để quý vị noi theo sự việc mà suy từng loại.

CẤN QUÁI: thuộc Thổ, gồm có 8 quái là:
Thuần Cấn - Sơn Hỏa Bí - Sơn Thiên Đại Súc - Sơn Trạch Tổn - Hỏa Trạch Khuê - Thiên Trạch Lý - Phong Trạch Trung Phu - Phong Sơn Tiệm.

Thiên Thời: Mây - Mù - Khí núi bốc lên nghi ngút.
Địa lý: Đường tắt trong núi - Gần sơn thành - Gò động - Phần mộ - Hướng Đông Bắc.
Nhân vật: Thiếu nam - Kẻ nhàn rỗi - Người ở trong núi.
Nhân sự: Trở ngại - Yên lặng - Tiến thối chẳng quyết - Phản bội - Còn ở đó - Chẳng thấy.
Thân thể: Tay, ngón tay - Xương - Sống mũi - Lưng.
Thời tự: Tháng thuộc Đông Xuân - Tháng Chạp - Năm, tháng, ngày giờ thuộc Thổ - Tháng ngày 7, 5, 10.
Động vật: Con gấu - Con chuột - Bách cầm - Vật có mỏ đen.
Tịnh vật: Đất đá - Dưa, quả - Vật sắc vàng - Vật ở trong đất.
Ốc xá: Nhà ở hướng Đông Bắc - Ở gần núi dá - Nhà ở gần đường.
Gia trạch: Yên ổn - Mọi việc trở ngại - Người nhà chẳng hòa thuận - Mùa Xuân chiêm bất yên.
Hôn nhân: Cách trở khó thành - Hoặc chậm trễ - Lợi gá hôn với thiếu nam - Mùa Xuân chiêm bất lợi - Nên gá hôn với người đối hương thôn (khác xã).
Ẩm thực: Vị vật ở trong đất - Thịt loài thú - Măng tre ở gần bờ ruộng hoặc mồ mả - Vị ăn ở đồng ruộng.
Sinh sản: Khó sanh - Có ách nạn hiễm trở - Lâm sản nên hướng Đông Bắc - Mùa Xuân chiêm bị tổn hại.
Cầu danh: Cách trở không thành danh - Nên nhậm chức về hướng Đông Bắc - Nên giữ chức ở chốn sơn thành.
Mưu vọng: Trở ngại khó thành - Tiến thối chẳng quyết.
Giao dịch: Khó thành - Giao dịch về sơn lâm điền thổ - Mùa Xuân chiêm bị tổn thất.
Cầu lợi: Cầu tài trắc trở - Nên hướng tài về chốn sơn lâm - Mùa Xuân chiêm bất lợi - Có tổn thất.
Xuất hành: Không nên đi xa - Có trở ngại - Nên đi gần bằng đường bộ.
Yết kiến: Chẳng gặp - Có trở ngại - Nên gặp người ở chốn sơn lâm.
Tật bệnh: Tật tay - Ngón tay - Tỳ vị.
Quan tụng: Quý nhân trở trệ (trắc trở) - Thưa kiện chưa giải quyết - Dính líu chẳng quyết.
Phần mộ: Huyệt hướng Dông Bắc - Mùa Xuân chiêm bất lợi - Gần ven lộ có đá.
Phương đạo: Phương Đông Bắc.
Ngũ sắc: Sắc vàng.
Tính tự (Họ, Tên): Tiếng cung (ngũ âm) - Người có tên họ đeo chữ Thổ ở một bên - Hàng vị 5, 7, 10.
Số mục: 5, 7, 10.
Ngũ vị: Vị ngọt.

Phần Bát Quái Vạn Vật kể trên, sự việc còn rất nhiều chẳng chỉ có như vậy mà thôi. Vậy phép chiêm, nên noi theo sự việc mà suy từng loại vậy.

Biến Quẻ là BÁT THUẦN CẤN (quẻ số 52)
A - Giải Thích Cổ Điển

1) Toàn quẻ :

- Vật lý không thể động mãi được, tất nhiên phải dừng. Vậy tiếp quẻ Chấn là quẻ Cấn .

- Tượng hình bằng hai quái đều là Cấn. Cấn là Khôn (đất) mà có một hào dương đùn lên như núi, là im lìm, dừng lại. Thêm nghĩa nữa là hào dương dụ cho cái lưng, lưng không liên can với ngoại giới trong khi ngũ quan vẫn hoạt động.

- Vậy Cấn là giữ tâm an tịnh, nhưng vẫn quan tâm đến việc đời. Tùy lúc nên dừng thì dừng, mà lúc nên họat động thì sẽ hoạt động như thế mới đúng là đạo quang minh. Quân tử tượng quẻ, luôn luôn hành hoặc chỉ theo đúng thời thế và địa vị của mình.

2) Từng hào :

Sơ Lục : ở dưới cùng, ví như ngón chân, lúc mới động thì biết chỉ ngay, sẽ được vô cựu, và phải kiên cố lâu dài mới tốt. (Ví dụ Nguyễn Du, khi Tây Sơn chiếm Bắc Hà, về quê vợ định khởi nghĩa, nhưng thấy vô ích, bèn mai danh ẩn tích).

Lục Nhị : ví như bắp chân, phải theo cẳng chân (Tam), nên Nhị không vui. Nhưng kệ Tam xuẩn động không nghe mình, Nhị cứ giữ vững chính đạo. (Ví dụ Phạm Phú Thứ, Bùi Viện, Nguyễn Trường Tộ,v.v. biết rõ thế lực ghê gớm của Pháp, khuyên triều đình nguyễn nên thành tâm giao hảo với Pháp và mở rộng cửa cho các cường quốc khác để kiềm chế Pháp, nhưng bọn Tường, Thuyết ngu tối, không chịu).

Cửu Tam : ví như giữa quãng thân thể, dương cương bất trung, lại không ứng với ai, tượng như người có bệnh ở giữa xương sống, bị nguy. (Ví dụ Tôn Thất Thuyết bạo động ở Mang Cá).

Lục Tứ : bắt đầu vào thượng quái, nhu hậu đắc chính, ví như thân đứng vững tuy không có công nghiệp gì lớn, nhưng cũng được vô cựu. (ví dụ Yên Đổ Nguyễn Khuyến, ra làm quan lúc phong trào cần vương còn bồng bột, biết là vô ích, nên an phận thủ thường, làm quan một dạo rồi rút về quê lánh mình).

Lục Ngũ : ở giữa thượng quái, ví như miệng mép. Đắc trung, việc gì đáng nói mới nói, nên tất được hối vong. (Ví dụ Nguyễn Công Hãng, tuy ở gần chúa Trịnh hống hách, thấy việc gì can được mới khuyên can, nên chúa Trịnh phải nể vì).

Thượng Cửu : có đức dương cương, lại ở cuối quẻ cấn, là bền vững cho đến lúc cuối cùng, lấy đức hậu mà được kết quả tốt. (Ví dụ Câu Tiễn lần đầu tiên phản công Ngô, tuy đã đạt được chút thắng lợi, nhưng thấy Ngô còn vững, bèn cho giảng hòa, chờ đến khi Ngô suy đốn cùng cực mới tiêu diệt).

B - Nhận Xét Bổ Túc.

1) Ý nghĩa quẻ Cấn :

Tượng quẻ là núi im lìm, tức là dừng, không tiến lên nữa. Nhưng dừng không phải là buông bỏ hoạt động một cách thụ động vì áp lực, mà là dừng chủ động vì đó là con đường hợp lý. Khi nên hành thì hành, khi nên chỉ thì chỉ, đó là ý nghĩa của quẻ Cấn.

Quẻ này biểu lộ triết lý biết tự kiềm chế, thuận theo thời vận, không xuẩn động khi thời thế không cho phép. Triết lý này, các bậc anh hùng quá tham lam như Napoléon, Hitler, đã không biết nên thất bại.

2) Bài học :

Đừng đòi hỏi một nghị lực rất lớn, còn hơn cả hoạt động. Thái độ này bao hàm 2 việc:

a) Không nhiễu sự đối với người dưới nếu họ tuân theo luật pháp kỷ luật. Đó là chính sách tự do (liberalisme) để cho dân tự do sản xuất; buôn bán, làm giầu trong vòng pháp luật. Chớ có đặt ra luật lệ quá phiền phức (interventionnisme). Cấp cầm quyền chỉ nên điều khiển những hoạt động lớn, như phát hành tiền tệ, an ninh xã hội, quốc phòng, ngoại giao, mà nên tránh (dừng) can thiệp vào những hoạt động cá nhân.

b) Đối với bản thân mình, gác ra ngoài dục vọng, ưu tư. Chớ ham làm giầu quá sức, chớ vọng tưởng những danh vọng mà mình không xứng đáng. Đúng với châm ngôn nhà Nho: ỏTri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc? Triết lý đó gần giống với triết lý đạo Phật: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, cả hai đều là minh triết của phương Đông.


Bảng Bát Quái Vạn Vật
Quẻ BÁT THUẦN CẤN có Thượng quái là Cấn và Hạ quái là Cấn. Bản bát quái vạn vật sẽ liệt kê những thứ liên quan trong quẻ này để quý vị noi theo sự việc mà suy từng loại.

CẤN QUÁI: thuộc Thổ, gồm có 8 quái là:
Thuần Cấn - Sơn Hỏa Bí - Sơn Thiên Đại Súc - Sơn Trạch Tổn - Hỏa Trạch Khuê - Thiên Trạch Lý - Phong Trạch Trung Phu - Phong Sơn Tiệm.

Thiên Thời: Mây - Mù - Khí núi bốc lên nghi ngút.
Địa lý: Đường tắt trong núi - Gần sơn thành - Gò động - Phần mộ - Hướng Đông Bắc.
Nhân vật: Thiếu nam - Kẻ nhàn rỗi - Người ở trong núi.
Nhân sự: Trở ngại - Yên lặng - Tiến thối chẳng quyết - Phản bội - Còn ở đó - Chẳng thấy.
Thân thể: Tay, ngón tay - Xương - Sống mũi - Lưng.
Thời tự: Tháng thuộc Đông Xuân - Tháng Chạp - Năm, tháng, ngày giờ thuộc Thổ - Tháng ngày 7, 5, 10.
Động vật: Con gấu - Con chuột - Bách cầm - Vật có mỏ đen.
Tịnh vật: Đất đá - Dưa, quả - Vật sắc vàng - Vật ở trong đất.
Ốc xá: Nhà ở hướng Đông Bắc - Ở gần núi dá - Nhà ở gần đường.
Gia trạch: Yên ổn - Mọi việc trở ngại - Người nhà chẳng hòa thuận - Mùa Xuân chiêm bất yên.
Hôn nhân: Cách trở khó thành - Hoặc chậm trễ - Lợi gá hôn với thiếu nam - Mùa Xuân chiêm bất lợi - Nên gá hôn với người đối hương thôn (khác xã).
Ẩm thực: Vị vật ở trong đất - Thịt loài thú - Măng tre ở gần bờ ruộng hoặc mồ mả - Vị ăn ở đồng ruộng.
Sinh sản: Khó sanh - Có ách nạn hiễm trở - Lâm sản nên hướng Đông Bắc - Mùa Xuân chiêm bị tổn hại.
Cầu danh: Cách trở không thành danh - Nên nhậm chức về hướng Đông Bắc - Nên giữ chức ở chốn sơn thành.
Mưu vọng: Trở ngại khó thành - Tiến thối chẳng quyết.
Giao dịch: Khó thành - Giao dịch về sơn lâm điền thổ - Mùa Xuân chiêm bị tổn thất.
Cầu lợi: Cầu tài trắc trở - Nên hướng tài về chốn sơn lâm - Mùa Xuân chiêm bất lợi - Có tổn thất.
Xuất hành: Không nên đi xa - Có trở ngại - Nên đi gần bằng đường bộ.
Yết kiến: Chẳng gặp - Có trở ngại - Nên gặp người ở chốn sơn lâm.
Tật bệnh: Tật tay - Ngón tay - Tỳ vị.
Quan tụng: Quý nhân trở trệ (trắc trở) - Thưa kiện chưa giải quyết - Dính líu chẳng quyết.
Phần mộ: Huyệt hướng Dông Bắc - Mùa Xuân chiêm bất lợi - Gần ven lộ có đá.
Phương đạo: Phương Đông Bắc.
Ngũ sắc: Sắc vàng.
Tính tự (Họ, Tên): Tiếng cung (ngũ âm) - Người có tên họ đeo chữ Thổ ở một bên - Hàng vị 5, 7, 10.
Số mục: 5, 7, 10.
Ngũ vị: Vị ngọt.

Phần Bát Quái Vạn Vật kể trên, sự việc còn rất nhiều chẳng chỉ có như vậy mà thôi. Vậy phép chiêm, nên noi theo sự việc mà suy từng loại vậy.


lồi mắt các dậu bùa phòng bếp Tân Tỵ nợ như chúa chổm SAO kình Tâm Linh vận trình tuổi sửu hình dáng mũi son nam 2017 mơ mất xe máy hóa giải đường đâm thẳng vào nhà tu vi Phụ nữ sinh tháng nào dễ lận xem tướng mạo nhanh Tử vi của người tuổi Tân Dậu mơ thấy yêu quái xem tướng mũi khi mong Hội bảo bình nam và thần nông nữ Nguoi Vị Lượng danh nhân xem tướng mũi cho phụ nữ nguyên tắc phong thủy ngón xà giấc mang tỏi phong thủy các loài hoa Su tu va nhan ma ban tay con gai lanh Tinh giấc mơ thấy vịt xem tuoi láy chong sau chòm sao nữ không thích yêu xa xem tử vi Phòng ngủ thiết kế quá nhiều phong thủy mã đáo thành công chàng trai song tử và cô gái thần nông xong nha nguoi sao Ân Quang tại mệnh hanh